Thông tin truyện
Người Thật Thà Nhất Làng
Bảy năm khoác áo cảnh sát hình sự, tôi đã chứng kiến đủ kiểu người giỏi ngụy trang.
Có kẻ giả đi/ên để trốn tránh trách nhiệm, có kẻ đóng vai ngốc nghếch nhằm qua mặt người khác. Cũng có những kẻ mang vẻ ngoài hiền lành, vô hại, vừa khóc lóc van xin vừa lén giấu d/ao dưới gầm giường, chỉ chờ người đối diện mất cảnh giác.
Thế nhưng, trong số những kẻ tôi từng gặp, Vương Thủ Quý vẫn là một trường hợp đặc biệt.
Bởi thứ ông ta dùng để che giấu bộ mặt thật không phải sự đi/ên loạn hay ngây ngô, mà chính là vẻ chất phác, thật thà.
Một kiểu thật thà rất đỗi quen thuộc ở những vùng quê nghèo.
Mỗi khi gặp người khác, Vương Thủ Quý luôn là người nở nụ cười trước. Nói chuyện thì khom lưng, cúi đầu, hai tay kính cẩn đưa th/uốc lá. Dù bị ai đó m/ắng mỏ, ông ta cũng chẳng bao giờ nổi nóng, chỉ ngượng nghịu xoa hai bàn tay vào nhau rồi cười xòa.
“Vâng, vâng, tôi vốn ăn nói vụng về, mong mọi người thông cảm.”
Chính vì thế, suốt nhiều năm, chẳng một ai trong làng nghĩ Vương Thủ Quý có thể làm chuyện đ/ộc á/c.
Ông ta ngoài bốn mươi tuổi, sống bằng nghề chăn nuôi lợn. Vợ đã bỏ đi từ lâu, hai người không có con cái, nên ông ta cứ lủi thủi một mình trong căn nhà nằm ở cuối làng.
Ngày nào cũng vậy, khi cả xóm còn chìm trong giấc ngủ, Vương Thủ Quý đã lục đục thức dậy chuẩn bị thức ăn cho đàn lợn. Quần áo ông ta lúc nào cũng ám mùi chuồng trại, đôi bàn tay thô ráp vì lao động quanh năm.
Nhưng ở làng ấy, nhắc đến Vương Thủ Quý, người ta thường chỉ nhớ đến những việc tốt ông ta từng làm.
Năm làng quyên góp tiền sửa đường, ông ta chủ động đóng góp một khoản không nhỏ.
Có lần, một cụ già trong xóm bất ngờ ngã b/ệnh, gia đình không tìm được xe đưa đi cấp c/ứu. Vương Thủ Quý lập tức lái xe chạy tới chạy lui ba chuyến để đưa người nhà đến b/ệnh viện.
Ngay cả khi trường học địa phương muốn cải thiện bữa ăn cho học sinh, ông ta cũng chẳng ngần ngại tặng hai con lợn.
Một người đàn ông chịu thương chịu khó, sống tiết kiệm, lại sẵn lòng giúp đỡ hàng xóm như thế, ai có thể nghi ngờ?
Bởi vậy, đến tận ngày chúng tôi đưa lực lượng tới khám xét căn nhà và đào mở căn hầm bí mật phía sau, dân làng vẫn tụ tập bên ngoài, không ngừng xì xào.
“Chắc cảnh sát nhầm rồi. Lão Vương mà làm chuyện thất đ/ức được sao?”
“Tôi sống cạnh ông ấy mấy chục năm, chưa bao giờ thấy ông ấy gây sự với ai.”
“Người ta nói chuyện còn chẳng dám lớn tiếng, lấy đâu ra gan làm chuyện t/ày tr/ời như thế?”
Nhưng tất cả những lời bênh vực ấy đều chấm dứt khi cánh cửa căn hầm được mở ra.
Một luồng mùi h/ôi th/ối nồng nặc lập tức bốc lên từ khoảng tối bên dưới.
Viên cảnh sát trẻ đứng gần cửa nhất vừa hít phải đã tái mét mặt mày, vội quay sang bên cạnh n/ôn kh/an.
Tôi bật đèn pin, chiếu sâu xuống lòng hầm.
Và cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến tôi lạnh toát sống lưng.
Trong một góc tối ẩm thấp, năm người phụ nữ đang ngồi co ro, chen chúc sát vào nhau.
Cơ thể họ g/ầy gò đến mức gần như chỉ còn d/a bọc x/ương. Những bộ quần áo trên người đã rách nát, có người thậm chí phải dùng bao tải gai cũ để che thân.
Ánh sáng đèn pin vừa quét tới, cả năm người đồng loạt run rẩy.
Nhưng điều khiến tôi kinh hoàng hơn cả chính là phản ứng của họ.
Không ai đứng dậy.
Không ai chạy tới cầu c/ứu.
Thậm chí, cũng chẳng có lấy một tiếng kêu.
Họ chỉ hoảng hốt ôm đầu, cố thu mình lại, rồi lùi sâu hơn vào góc tối như thể những bước chân đang tiến đến đồng nghĩa với một cơn á/c m/ộng khác sắp bắt đầu.
Dưới nền đất bẩn thỉu là những chiếc lá rau đã mục rữa, vài chiếc bánh bao mốc meo cùng những chiếc máng ăn cũ vốn được dùng trong chuồng lợn.
Tôi nhìn những chiếc máng ấy, rồi nhìn năm người phụ nữ đang run rẩy trước mặt.
Một cảm giác phẫn nộ dữ dội bỗng dâng lên trong lồng ngực.
Phía trên cửa hầm, Vương Thủ Quý đã bị đồng đội của tôi khống chế. Hai cánh tay ông ta bị giữ ch/ặt sau lưng, khuôn mặt áp xuống nền đất ẩm.
Vậy mà ông ta vẫn không ngừng gào lên rằng mình bị oan.
“Các đồng chí cảnh sát! Tôi không làm gì sai cả! Các anh hiểu lầm rồi!”
Tôi bước đến trước mặt ông ta.
Suốt bảy năm làm nghề, tôi luôn tự nhắc bản thân phải giữ cái đầu lạnh, bất kể đối diện với loại t/ội ph/ạm nào.
Nhưng lần đó, sự bình tĩnh gần như biến mất hoàn toàn.
Tôi nhìn thẳng vào mắt Vương Thủ Quý, nghiến răng hỏi:
“Rốt cuộc ông còn chút nhân tính nào không? Sao có thể đối xử với con người như vậy?”
Vương Thủ Quý ngừng kêu oan.
Ông ta từ từ ngẩng đầu, liếc về phía cửa hầm đang mở, sau đó quay sang nhìn tôi.
Vẫn là gương mặt khắc khổ, hiền lành mà cả ngôi làng đã quen thuộc suốt mấy chục năm.
Chỉ có điều, nụ cười nhún nhường thường ngày đã biến mất.
Thay vào đó là một vẻ thản nhiên đến r/ợn ng/ười.
Ông ta chậm rãi lên tiếng:
“Đồng chí cảnh sát, tôi làm nghề nuôi lợn hai mươi năm rồi.”
Tôi sững lại.
Vương Thủ Quý tiếp tục, giọng bình thản như đang kể chuyện chăn nuôi thường ngày:
“Lợn mới đưa về chuồng cũng vậy thôi. Ban đầu chúng kêu la, vùng vẫy, đ/ập đầu vào cửa, nhất quyết không chịu ăn.”
Ông ta ngừng một thoáng, khóe miệng hơi nhếch lên.
“Nhưng cứ để đói vài ngày, tự khắc chúng sẽ biết nghe lời.”
Tôi nhìn người đàn ông trước mặt, nhất thời không nói nên lời.
Đến giây phút ấy, tôi mới thực sự hiểu rằng vẻ ngoài hiền lành mà Vương Thủ Quý gìn giữ suốt bao năm chỉ là một lớp vỏ bọc.
Và thứ ẩn giấu dưới lớp vỏ ấy còn đ/áng s/ợ hơn tất cả những gì chúng tôi từng tưởng tượng.
Thực ra, khi vụ án vừa được chuyển đến đội hình sự, không ai nghĩ rằng nó có liên quan đến một trang trại nuôi lợn ở vùng quê hẻo lánh.
Những manh mối ban đầu thậm chí còn khiến chúng tôi nghi ngờ đây là một vụ l/ừa đ/ảo hoặc b/ắt c/óc có liên quan đến đường dây xuyên biên giới.
Mọi chuyện bắt đầu từ sự mất tích bí ẩn của một cô gái mười chín tuổi tên Hứa Miêu.
Hứa Miêu làm nhân viên tại một tiệm trà sữa trong huyện.
Theo lời đồng nghiệp, cô là người khá hoạt bát, làm việc chăm chỉ và chưa từng có biểu hiện gì bất thường.
Chiều hôm xảy ra chuyện, Hứa Miêu vẫn đi làm như mọi ngày.
Cô thậm chí còn hẹn cô bạn thân tối hôm ấy cùng đi xem phim. Hai người đã m/ua vé từ trước, chỉ đợi cô tan ca là gặp nhau.
Lịch làm việc tại tiệm trà sữa cũng đã được sắp xếp đến tận tuần sau.
Nói cách khác, trong cuộc sống của Hứa Miêu, mọi thứ vẫn đang diễn ra theo đúng quỹ đạo.
Không có dấu hiệu cô chuẩn bị bỏ đi.
Không có lý do rõ ràng khiến cô phải đột ngột cắt đứt liên lạc với gia đình và bạn bè.
Thế nhưng, vào khoảng bốn giờ rưỡi chiều hôm đó, Hứa Miêu bỗng dưng biến mất.
Cuộc gọi không có người nghe.
Tin nhắn gửi đi cũng chẳng nhận được phản hồi.
Đến tối, khi cô không xuất hiện tại rạp chiếu phim, người bạn thân bắt đầu cảm thấy có điều bất thường.
Gia đình tìm kiếm khắp nơi nhưng không có kết quả.
Ban đầu, vẫn có người cho rằng cô gái trẻ có thể đang giận dỗi ai đó rồi tự ý bỏ đi vài ngày.
Dù sao, những trường hợp thanh niên bỏ nhà đi vì mâu thuẫn gia đình hoặc chuyện tình cảm không phải là hiếm.
Nhưng mẹ của Hứa Miêu kiên quyết phản đối suy đoán ấy.
Khi bà tìm đến cơ quan cảnh sát để trình báo, tôi là người trực tiếp tiếp nhận vụ việc.
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ rõ dáng vẻ của người phụ nữ đó.
Bà rất g/ầy, hai gò má hóp sâu, đôi mắt đỏ hoe vì nhiều đêm không ngủ.
Mái tóc rối bù, lẫn lộn những sợi bạc trắng. Nhìn bà, tôi có cảm giác chỉ sau một đêm, người phụ nữ ấy đã già đi hàng chục tuổi.
Trong tay bà ôm một túi giấy cũ.
Vừa ngồi xuống ghế, bà đã vội vàng mở túi, lấy từng món đồ đặt lên bàn làm việc của tôi.
Một bản sao giấy tờ tùy thân của Hứa Miêu.
Một cuốn sổ hộ khẩu.
Vài bức ảnh chụp cô gái trong cuộc sống thường ngày.
Và cuối cùng là một chiếc điện thoại cũ có màn hình nứt vỡ.
Bà sắp xếp chúng ngay ngắn, đôi tay run rẩy không ngừng.
Sau đó, bà ngẩng đầu nhìn tôi, khẩn khoản nói:
“Đồng chí cảnh sát, con gái tôi không phải đứa trẻ tùy tiện bỏ nhà đi như vậy đâu.”
Đó là câu đầu tiên bà nói.
Trong suốt những năm làm cảnh sát hình sự, tôi đã nghe câu nói tương tự không biết bao nhiêu lần.
Mỗi khi một người đột nhiên mất tích, người thân của họ thường cố gắng chứng minh rằng người ấy sẽ không tự ý rời đi.
Không phải vì họ không tin cảnh sát.
Mà bởi hai chữ “mất tích” đối với một gia đình bình thường thực sự quá đ/áng s/ợ.
Họ sợ rằng nếu người khác cho rằng con mình chỉ bỏ nhà đi, việc tìm kiếm sẽ bị chậm trễ.
Họ càng sợ hơn rằng, trong lúc mọi người vẫn đang chờ đợi, người thân của mình có thể đang phải chịu đựng điều gì đó khủng khiếp ở một nơi không ai biết đến.
Mẹ Hứa nắm ch/ặt mép bàn, giọng nghẹn ngào:
“Con bé có hơi ham m/ua sắm, thỉnh thoảng cũng cãi lời tôi. Mẹ con sống với nhau, làm sao tránh được những lúc bất đồng?”
Bà cúi xuống lau nước mắt.
“Nhưng Hứa Miêu rất ngoan. Nó chưa bao giờ ngủ qua đêm ở ngoài mà không báo cho tôi biết.”
“Nó đi làm ngày nào cũng nhắn tin. Dù có tăng ca về muộn, con bé vẫn gọi điện nói một tiếng để tôi khỏi lo.”
Bà kể rằng mỗi khi trở về, Hứa Miêu đều có thói quen vừa mở cửa vừa gọi lớn:
“Mẹ ơi, con về rồi!”
Chỉ một câu nói đơn giản như thế, nhưng đã trở thành âm thanh quen thuộc nhất trong căn nhà nhỏ của hai mẹ con.
Vậy mà tối hôm ấy, bà chờ mãi.
Từ lúc trời chập choạng tối cho đến khi ngoài đường không còn tiếng xe cộ, cánh cửa nhà vẫn im lìm.
Không có tiếng chìa khóa tra vào ổ.
Không có tiếng bước chân quen thuộc.
Cũng chẳng còn giọng nói trong trẻo gọi mẹ như mọi ngày.
Bà gọi cho con gái hết lần này đến lần khác.
Nhưng phía bên kia chỉ vang lên những hồi chuông kéo dài, tuyệt nhiên không có ai bắt máy.
Nói đến đây, người phụ nữ đang cố gắng giữ bình tĩnh bỗng bật khóc.
“Đồng chí cảnh sát, tôi hiểu tính con gái mình. Nó có thể cãi nhau với tôi, có thể giận tôi, nhưng tuyệt đối không để tôi phải lo lắng như vậy.”
Bà dùng mu bàn tay gạt nước mắt, rồi tiếp tục kể.
Hứa Miêu tuy còn trẻ nhưng rất thương mẹ.
Mỗi lần nhận lương, cô đều chuyển cho bà hai trăm tệ.
Đối với nhiều người, hai trăm tệ chẳng phải số tiền lớn lao gì.
Nhưng với một cô gái mới mười chín tuổi, làm việc ở tiệm trà sữa với đồng lương ít ỏi, đó là khoản tiền cô phải tiết kiệm từng chút một.
Mỗi lần chuyển tiền xong, Hứa Miêu lại nhắn:
“Mẹ ơi, con vừa nhận lương rồi. Con gửi mẹ hai trăm tệ, mẹ nhớ m/ua chút đồ ngon mà ăn nhé.”
Có lần bà không nhận, bảo con giữ lại để m/ua quần áo.
Hứa Miêu còn phụng phịu:
“Mẹ cứ nhận đi. Con kiếm được tiền rồi mà. Sau này con còn kiếm được nhiều hơn nữa, cho mẹ sống sung sướng luôn.”
Kể đến đó, mẹ Hứa bỗng nhìn xuống chiếc điện thoại nứt màn hình trên bàn.
Bà vuốt nhẹ lên mặt kính, đôi môi run rẩy.
“Điện thoại này là con bé m/ua cho tôi bằng tháng lương đầu tiên.”
“Bản thân nó còn dùng điện thoại cũ, vậy mà cứ nhất quyết đổi máy cho mẹ.”
“Tôi bảo không cần, nó còn giận, nói tôi không chịu hưởng phúc của con gái.”
Giọng bà mỗi lúc một nhỏ.
“Đồng chí cảnh sát, con bé còn chưa kịp sống sung sướng ngày nào...”
Tôi im lặng một lúc, đợi bà bình tĩnh trở lại rồi mới hỏi:
“Gần đây Hứa Miêu có biểu hiện gì khác thường không? Chẳng hạn tâm trạng sa sút, thường xuyên lo lắng, hoặc đột nhiên nhắc đến chuyện muốn đi xa?”
Mẹ Hứa suy nghĩ rất lâu.
Cuối cùng, bà lắc đầu.
“Không có.”
Tôi tiếp tục hỏi:
“Cô ấy có quen người lạ nào gần đây không? Có nhắc đến công việc mới, cơ hội kiếm tiền, hay chuyện đi nơi khác làm ăn không?”
Người phụ nữ nhíu mày, cố lục tìm từng chi tiết trong trí nhớ.
Nhưng sau cùng, bà vẫn lắc đầu.
“Con bé không kể gì với tôi cả.”
Tôi ghi lại lời khai, sau đó đề nghị bà cung cấp những thông tin liên quan đến lịch trình cuối cùng của Hứa Miêu.
Trong lúc trao đổi, điện thoại của đồng nghiệp đặt bên cạnh chợt rung lên.
Một kết quả rà soát ban đầu vừa được gửi tới.
Tôi mở dữ liệu, ánh mắt lập tức dừng lại ở một chi tiết khác thường.
Điện thoại của Hứa Miêu vẫn đang hoạt động.
Kể từ thời điểm cô gái mất liên lạc, thiết bị ấy chưa từng tắt nguồn hoàn toàn.
Thậm chí, trong dữ liệu còn liên tục xuất hiện những dấu vết vị trí.
Điều đó khiến vụ việc trở nên đáng ngờ.
Nếu Hứa Miêu chủ động bỏ đi, vì sao cô không nghe điện thoại của gia đình?
Nếu cô gặp chuyện bất trắc, tại sao điện thoại vẫn liên tục di chuyển?
Và quan trọng nhất, người đang mang chiếc điện thoại ấy rốt cuộc có phải Hứa Miêu hay không?
Bảy năm điều tra án hình sự đã dạy tôi một điều.
Lời nói của con người có thể được chuẩn bị kỹ lưỡng, biểu cảm có thể được luyện tập đến mức hoàn hảo, nhưng những dấu vết vô tình để lại đôi khi lại tiết lộ một câu chuyện hoàn toàn khác.
Chiếc điện thoại không thể cho chúng tôi biết ai đang cầm nó.
Càng không thể chứng minh chủ nhân của nó vẫn an toàn.
Nhưng những tín hiệu còn sót lại đã cung cấp một hướng điều tra quan trọng.
Ban đầu, căn cứ vào quỹ đạo di chuyển của thiết bị, chúng tôi nghi ngờ Hứa Miêu có thể đã bị đưa ra khỏi địa phương.
Thậm chí, một số dấu hiệu còn khiến tổ điều tra liên tưởng đến những vụ l/ừa đ/ảo và b/ắt c/óc xuyên biên giới từng được ghi nhận trước đó.
Thế nhưng, khi tiếp tục lần theo manh mối, chúng tôi dần nhận ra sự việc không đơn giản như vậy.
Bởi hướng di chuyển của chiếc điện thoại ấy cuối cùng lại dẫn tới một vùng nông thôn mà hầu như chẳng ai để ý.
Và tại nơi đó, có một người đàn ông được cả làng hết lời ca ngợi vì sự lương thiện, thật thà.
Ông ta tên là Vương Thủ Quý.
...
Danh sách chương
Truyện cùng tác giả
Thể loại truyện
- Ngôn Tình
- Cổ Đại
- Tiên Hiệp
- Dị Giới
- Xuyên Không
- Đam Mỹ
- Hài Hước
- Ngược
- Đô Thị
- Khác
- Đoản Văn
- Sủng
- Lịch Sử
- Huyền Huyễn
- Trọng Sinh
- Phương Tây
- Linh Dị
- Dị Năng
- Mạt Thế
- Trả Thù
- Đang cập nhật
- Hiện Đại
- HE
- Hệ Thống
- Cung Đấu
- Nữ Cường
- Vả Mặt
- Ngọt
- Hư Cấu Kỳ Ảo
- Gia Đình
- Kinh Dị
- Thanh Xuân Vườn Trường
- Quy Tắc
- Ngược Nam
- Chữa Lành
- Học Đường
- Truy Thuê
- Tiểu Thuyết Sảng Khoái
- Hành động
- Tâm lý
- Trinh thám
- Tâm lý
- Bi kịch
- Hồi hộp
- Kịch tính
- Sảng Văn
- Ngược tâm
- Báo thù
- Gia đấu